24/2/10

Bức tranh xã hội Việt Nam - Mảng tối và Nỗi ưu tư

Nhật Hiên, thông tín viên RFA 2010-02-02

Bức tranh xã hội Việt Nam thật sự bất ổn về nhiều mặt qua nhiều sự kiện đáng buồn gần đây như: thả chó dữ cắn chết người, hiệu trưởng mua dâm nữ sinh còn ở tuổi vị thành niên …



Qua hàng loạt sự kiện xảy ra gần đây như vụ một người phụ nữ nghèo ở Buôn Ma Thuộc đi mót hạt cà phê trong một trang trại bị người quản lý của trang trại bỏ mặc cho đàn chó dữ cắn xé đến chết, cho đến vụ án hiệu trưởng một trường phổ thông trung học ở tỉnh Hà Giang, ông Sầm Đức Xương mua dâm hàng loạt nữ sinh đang còn ở tuổi vị thành niên…đã cho thấy ngày càng rõ bức tranh xã hội Việt Nam bất ổn về nhiều mặt trong đó sự tha hóa về đạo đức, sự xuống cấp về các giá trị căn bản như lương tri, tình người, tính thiện… …đang là một sự báo động.


Sao mạng người chết dễ thế?


Từ cái chết của người phụ nữ đi mót hạt cà phê và cái chết oan ức của một đứa trẻ vì bị điện giật ngoài đường do cung cách làm ăn thiếu trách nhiệm của các cơ quan đơn vị liên quan, nhà thơ Đỗ Trung Quân ngậm ngùi than: “Cứ tạm gạt bỏ hết mọi tình tiết phải điều tra cái chết bi thảm của bà lão đi mót cà phê ở Dak Lak bị xua chó berger cắn nát xác. Hình ảnh ấy hệt 100% “ nhà mẹ lê” của Nguyễn Công Hoan đầu thế kỷ trước. Chúng ta đang sống ở thời đại nào đây? Chỉ một năm, ngay giữa sài gòn 3 đứa trẻ vô tội chết vì điện giật ngoài đường. Chúng ta đang sống ở thời đại nào đây?”.


Nhà văn Nguyễn Quang Thân nhớ lại thời thực dân Pháp cai trị Việt Nam chưa xa: “Tôi nghĩ tới ký ức bi thảm về các đồn điền cao su và cà phê cũng ở Tây Nguyên thời Pháp thuộc. Các ông chủ đồn điền có lính gác, có cả những đàn chó béc-giê. Các ông chủ đồn điền muốn làm gì thì làm…


Vụ đàn chó béc-giê xé xác người đàn bà tội nghiệp mới xảy ra ngày 21 tháng 01 năm 2010. Nó gợi lại những ám ảnh đau thương gần nửa thế kỷ về trước”. Nhà văn kết luận: “Chúng ta có pháp luật, chúng ta yêu cầu pháp luật phải được thực thi nghiêm khắc. Ai cũng có quyền bảo vệ của cải chống kẻ gian, kẻ đột nhập. Nhưng cái quyền ấy không cho phép dùng những biện pháp giết người như bẫy điện hay đàn chó dữ có thể xé xác người vì mấy hạt cà phê. Hãy chấp nhận một sự thật là vẫn còn kẻ lắm tiền nhiều của, mua chuộc được thế lực công quyền, đang hành xử với đồng loại như mấy ông chủ đồn điền thuở trước.


Chỉ có pháp luật ra tay mới có thể xua tan được những ám ảnh của một quá khứ đau buồn mà không ai muốn quay lại nữa.”


Blogger Trần Kỳ Trung bức xúc: “Sao mạng người Việt Nam chết dễ thế?”: “Ngày lại ngày, không đọc báo thì thôi, đọc cứ thấy tin này chồng lên tin kia, gây cho mình nhiều nỗi bức xúc. Nỗi bức xúc, biết rằng có viết như thế này, hoặc nữa, mạnh dạn gửi thư từ, viết đơn đưa chỗ này, chỗ kia... cũng không mong có sự hồi âm hay một lời giải thích vì có lẽ những tin như thế là quá đỗi ‘bình thường’, ‘không đáng quan tâm’, thậm chí, có người còn nói ‘Nếu không có chuyện đó mới là bất bình thường’. Không biết đã có ai tổng hợp một năm ở nước ta có bao nhiêu người chết, ngoài nguyên nhân bệnh tật. Chỉ riêng tai nạn giao thông, một năm đã có hơn mười ngàn người chết…”


Cũng từ những cái chết thảm của em bé Bảo Trân 18 tháng tuổi sau nhiều ngày hôn mê vì bị bảo mẫu dán băng keo vào miệng năm 2007, vụ em gái Nguyễn Thị Bình bị ngược đãi, bị nhục hình suốt 14 năm mà tổ dân phố, hội phụ nữ, chính quyền, đoàn thể địa phương không hề hay biết hoặc có biết mà không can thiệp cho tới vụ người phụ nữ bị đàn chó cắn chết vừa nêu trên, blogger Đào Văn Tuấn thốt lên:


“Dường như chúng ta đang phải sống chung với sự vô cảm, sống chung với cái ác quá lâu rồi.”


Cái ác hoành hành


Không chỉ cái ác ngày càng ngang nhiên hoành hành trong xã hội, sự tha hóa về đạo đức cũng ngày càng ở mức độ gia tăng mà vụ án hiệu trưởng mua dâm là một trong những vụ điển hình gần đây. Blogger Da Vàng viết trong bài “Suy ngẫm quanh vụ án hiệu trưởng mua dâm”: “Chưa biết kết quả như thế nào, ai đúng, ai sai, ai bị phạt tù bao nhiêu. Nhưng với tôi, điều đó không còn quan trọng nữa. Tôi thực sự buồn khi theo dõi sát sao vụ án này. Qua vụ án, cho ta thấy một sự thật hết sức đau buồn: Đạo đức xã hội bị xuống cấp. Đạo đức xã hội xuống cấp một cách trầm trọng. Thầy mua dâm học trò; trò “lên giường” với thầy để lấy điểm mong cho thi đậu; thầy giáo nhờ học sinh tìm, giới thiệu bạn bè “còn trinh” đến bán cho thầy và bạn bè thầy; trong vụ án này còn lộ ra một danh sách đen là các nhân vật lãnh đạo cao cấp của tỉnh Hà Giang…


Đôi khi tôi tự hỏi, vụ án này, hiện tượng này là cá biệt, chỉ có ở tỉnh Hà Giang hay nó phổ biến trong xã hội chúng ta? Điều đó không ai trả lời được, chỉ khi nào vụ việc đem ra ánh sáng thì mọi người mới “té ngửa” ra mà than rằng: học trò thời nay đây sao? Thầy giáo thời nay đây sao? Cán bộ thời nay đây sao?… Thật khủng khiếp”.


Vụ án còn bộc lộ nhiều sai sót trong quá trình xét hỏi, điều tra thậm chí làm giả hồ sơ chứng cứ trước đó cũng như trong quá trình thẩm vấn, tranh luận trước tòa, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm v.v…mà trong bài viết “Một phiên tòa bày câu hỏi” nhà văn Nguyễn Quang Lập đã nêu ra và cả blogger Hà Văn Thịnh cũng đề cập đến trong bài : “Công lý không thể là trò chơi trốn tìm sự thật!” của mình: “Vụ án Hiệu trưởng mua dâm và những cô gái vị thành niên ‘môi giới mại dâm’ đang đẩy luật pháp và công lý đến những giới hạn cuối cùng của sự chịu đựng. Tất cả đang diễn ra như một bộ phim mà nội dung của nó ai cũng biết rõ: Có những nhân vật đen, trong một danh sách đen đang cố tình làm sai lệch hồ sơ và kết quả của phiên tòa! Đó là điều không thể chấp nhận khi chúng ta luôn nói rằng sự ‘thượng tôn luật pháp’ (rule of the law) là nguyên tắc, thực thể hiện hữu trong thể chế XHCN minh bạch, công bằng!” Vụ án, thêm một ví dụ nữa cho thấy luật pháp việt nam và cà bộ máy vận hành còn có rất nhiều vấn đề và rõ ràng là còn xa mới đạt tới tiêu chuẩn vủa một nền pháp luật công bằng, khách quan, độc lập.


Luật pháp chưa nghiêm


Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến một môi trường xã hội Việt Nam bất ổn, đạo đức tha hóa, cái xấu cái ác ngày càng lan tràn như cỏ dại…như hiện nay. Trong cái nhìn của blogger Đào Văn Tuấn, chính sự vô cảm của mọi người trước cái ác đã tạo điều kiện cho cái ác tiếp tục sinh sôi nảy nở. Nhưng vô cảm không phải là một tính cách của người việt vậy tại sao sự vô cảm lại trở nên phổ biến trong xã hội?: “…rõ ràng sự vô cảm sinh ra từ sự sợ hãi cái ác. Có người nói: Nỗi sợ hãi cái ác hiện nay là có thật. Và sự sợ hãi đó bắt nguồn từ sự thiếu tin tưởng vào hiệu năng của chính quyền, vào bộ máy thực thi pháp luật trong việc xử lý cái ác. Đó là nguyên nhân khiến người ta thấy cái ác mà không dám tố cáo, thấy điều bất lương mà không dám can thiệp, sợ kẻ gian mà không dám bênh người ngay vì sợ liên luỵ đến bản thân mà không được bảo vệ”. Tác giả kết luận: “Và sự vô cảm lãnh đạm, khi thành thói quen, sẽ biến chúng ta thành những kẻ ác bởi sự lãnh cảm của số đông mới là cái ác đáng sợ nhất.”


Sự bất lực của chính quyền trong việc xử lý tận gốc rễ cái xấu cái ác và sự thiếu nghiêm minh của luật pháp không chỉ khiến cho cái ác lan tràn, mà còn là nguyên nhân sâu xa của bao nhiêu sự bất công phi lý, trái tai gai mắt, những thảm cảnh trong xã hội. Khi lý giải về việc có quá nhiều cái chết không đáng xảy ra nhưng vẫn đang xảy ra hàng ngày tại Việt Nam, blogger Trần Kỳ Trung cũng cho rằng: “…chung quy lại, như nhiều người nói, “Ở nước ta có luật pháp mà như không có”, nên mới có nhiều người chết vô lý!


Giá như luật pháp được thượng tôn, không phân biệt người có chức vụ đến người dân thường, rồi người lãnh đạo phải là những tấm gương tốt để người dân tin tưởng, chắc chắc sẽ bớt đi nhiều cái chết vô nghĩa.


Nếu luật pháp nghiêm minh, chặt chẽ, cộng với một chính quyền hành xử đúng đắn, minh bạch thì sẽ tạo đựơc niềm tin trong người dân, họ cảm thấy được an toàn, được bảo vệ, và do đó họ sẽ hành xử đúng đắn theo pháp luật. Ngược lại, khi người dân đã mất lòng tin vào chính quyền, vào luật pháp, mọi sự sẽ trở nên tồi tệ như nhận định của nhà báo Ngô Nhân Dụng trong bài viết: “Tin tặc và tản tặc”:


“…người dân, người lớn đến trẻ em, phải chứng kiến những hành động trộm, cướp, côn đồ xảy ra trước mắt mà không thấy ai bị trừng phạt; ngược lại còn thấy cả guồng máy tuyên truyền hô hoán những lời gian dối để hỗ trợ các hành động côn đồ đó. Lâu ngày, người ta sẽ quên cách sống theo đạo lý bình thường, không còn biết thế nào là nhân nghĩa nữa…”.


Và đó chính là tình trạng đang diễn ra lâu nay trong xã hội Việt Nam!






TÌNH THƯ

Cao Huy Thuần



“Tình thư một bức phong còn kín / Gió nơi đâu gượng mở xem”. 600 năm trước, Nguyễn Trãi, người viết Bình ngô đại cáo, đã viết như thế.


Nay giáo sư Cao Huy Thuần lại viết Tình thư, mà tình thư để ngỏ. Câu chuyện như một ẩn dụ, phảng phất truyện cổ Phật giáo. Giọng văn cứ như đùa. Nhưng này, “Quan Tướng quốc” là ai, “hai nước” ở đây là hai nước nào, mà “rượu chè thì được, thề thốt thì kiêng”? Ai có những liên tưởng “nhạy cảm”, tác giả Cao Huy Thuần, tuanvietnam.net và Bauxite Việt Nam không chịu trách nhiệm!


Bauxite Việt Nam 14/02/2010


Thưa Quan Tướng quốc,






Chúng tôi vừa nhận được thư chúc Tết của Quan Tướng quốc trong đó Ngài đề nghị chúng tôi, nhân dịp đầu năm, bay qua quý quốc để cùng làm lễ uống máu ăn thề kết nghĩa liên minh bất diệt giữa hai nước chúng ta. Chúng tôi cũng nôn nao muốn đi, nhưng kẹt một nỗi trong phong tục nước tôi, tháng giêng là tháng ăn chơi, rượu chè thì được, thề thốt thì kiêng.


Dù vậy, chúng ta vẫn có thể trao đổi văn thư với nhau về chuyện thề thốt, cốt làm sao để uống máu nhau mà không làm hại gan nhau. Trong mục đích cao đẹp đó, tôi mạo muội kể ra đây vài chuyện đời xưa, nhân tiện cũng để mua vui trong ba ngày tết.


Thưa Quan Tướng quốc, đời xưa, trong nước chúng tôi, làng nào cũng có cây đa, riêng ở làng tôi, nghe nói có cây đa mọc lạc ở ven rừng, to lắm, sừng sững, rậm rạp, che nắng cho thú, lợp nhà cho chim. Dưới gốc cây, chằng chịt rễ, chẳng biết con chuột học lóm Củ Chi lúc nào mà moi địa đạo tài thế, hàng trăm ngõ ngách, động ngõ này biến ngõ kia, thánh cũng không tóm được nó. Lạ thật, ở đâu có chuột, ở đấy có mèo, số kiếp không rời nhau. Cho nên, trên cành cây, một con mèo hoang đến định cư thường trú, chim đậu quanh mình, tha hồ chén.






Thấy thú chạy, chim bay, đời sống dễ dãi quá, một anh thợ săn bắt đầu đến hành nghề. Công việc của anh đơn giản mà hiệu quả: đặt bẫy dưới gốc cây, về nhà ngủ, sáng mai đến lấy thú, nào cáo, nào thỏ, nào nhím. Một bữa, hứng chí, anh nướng một miếng thịt mỡ thơm lựng làm mồi. Con mèo, đang ngủ gà ngủ gật trên cây, ngứa mũi chịu không nỗi, lò mò đi xuống. Việc gì xảy ra tất phải xảy ra: cái bẫy sập xuống, nhốt mèo trong lưới. Vùng vẫy một hồi, mèo nằm im.


Trốn biệt trong địa đạo khi con mèo nhảy xuống gốc cây, chuột bây giờ hé mắt nhìn ra, đắc thắng thấy mèo co ro trong rọ. Nó nhảy phóc ra khỏi hang, thực thi tức khắc quyền tự do đi lại lâu nay bị hạn chế vì sự có mặt của con mèo. Nhưng mũi nó cơ hồ chảy ra thành nước khi cận kề miếng mỡ thơm lựng cứ vô tình tỏa hương bên cạnh cái bẫy. Trong lịch sử loài chuột, có trang nào ghi một anh hùng chuột yến tiệc vô tư trước mõm con mèo đâu? Ta mở đầu một trang sử mới!Bữa tiệc vương giả với khúc khải hoàn kéo dài không quá một tiếng meo của con mèo trong lưới. Con chuột giật mình dòm lên, bỗng ruột nó thót lại đau nhói: một con rắn đang trườn tới, mắt long lanh, lưỡi thườn thượt. Nó toan tháo chạy thì vù một tiếng, con cú láng giềng của nó ở trên cao bay vút xuống gốc cây, mỏ cong như lưỡi liềm, mặt hiểm như phù thủy. Lưỡng đầu thọ địch, chạy đâu?


Chạy đâu, thưa Quan Tướng quốc? Tam thập lục kế, có kế nào khác hơn là chui vào trong lưới? Vào lòng con mèo? Mèo là kẻ thù của chuột, nhưng ở giờ phút này chỉ có chuột cắn đứt lưới mới cứu được mèo tù nhân, chuột là cứu tinh của mèo. Chuột bất cộng đới thiên với mèo, nhưng ở giờ phút này nhờ có mèo sa lưới nên con mèo thù bỗng trở thành con mèo bạn.






Thấy thú chạy, chim bay, đời sống dễ dãi quá, một anh thợ săn bắt đầu đến hành nghề.


Ở đời có cái gì mà chẳng vô thường, phút trước là thù, phút sau là bạn, tùy tình thế thôi. Tùy tình thế mà kình nhau, tùy tình thế mà liên minh. Liên minh đâu có phải thương gì nhau, chỉ vì cần nhau thôi, mình cần nó, nó cần mình, gặp thời thế thế thời phải thế.


Thưa Quan Tướng quốc, ấy là con chuột suy nghĩ như vậy. Cho nên nó ngoại giao: “Bác Mèo ơi, em thấy bác nằm chèo queo như vậy em thương lắm, đường đường một đấng trượng phu… Em chui vào cắn lưới cho bác nhé, bác đừng làm hại em nhé”. Không đợi mèo trả lời, chuột chui tót vào lưới, cùng lúc cái cổ con rắn vươn lên toan đớp và hai cánh con cú quạt gió phần phật.


Mèo xử sự như một đấng trượng phu, ăn nói dịu ngọt như mía lùi: “Chú em yên tâm, thánh hiền đã dạy, chơi với kẻ thù khôn ngoan hơn là với tên bạn ngu xuẩn. Huống hồ ta không còn thù hằn gì với nhau nữa. Giờ này, ta là đồng minh. Chú em cứ yên tâm cắn lưới”. Nhưng con chuột, thoắt một cái, bỗng thấy tình thế đã đổi khác. Con rắn đã bỏ đi rồi, con cú đã bay lên cây, hai hiểm nguy đã thoát, giờ đây nó đối mặt với tử thù truyền kiếp! Hiển nhiên, tên kia cần nó, nhưng nó có cần tên kia nữa đâu mà nói đồng minh? Đang ở dưới nanh vuốt của tên kia, nó đâu phải là bạn, nó là tù binh!


Chuột cảm thấy an ninh bị đe dọa tận xương tủy. Lập tức, nó phải xác định lại vị thế cứu tinh của nó. “Bác Mèo ạ, không có em thì bác chết, trời xui đất khiến cho em vào đây để cứu bác, nhưng em không cần kể ơn đâu, em chỉ cần bác để yên cho em cắn lưới, đừng làm em sợ, em sợ thì miệng run, răng không cắn được. Bác nằm yên nhé”.


Sự thực, con chuột đang nghĩ đến chiến lược. Nó suy tính: chỉ cần cắn đứt hai lỗ là khoảng trống vừa rộng thênh thang để nó phóng ra ngoài mà không bị con mèo tóm lại. Con mèo cũng chiến lược không kém: chừng nào lỗ trống chưa đủ rộng để nó chui ra thì nhất thiết phải duy trì cảnh giác tận cao độ để con chuột khỏi sổng. Chẳng ai bị ai lừa, nhưng ai cũng nghĩ là mình lừa được. Cho nên cố lừa.


Con chuột đem cái chết ra dọa con mèo: “Bác Mèo ạ, em yếu bác mạnh, nhưng trước cái chết, ai cũng bình đẳng, bác với em bây giờ ở trong tình thế cực kỳ bình đẳng với nhau, bác xích ra một chút cho em thong dong làm việc”. Con mèo không chịu nhích một phân, chỉ dạy luân lý: “Mạnh với yếu gì lúc này, chú em! Thánh hiền đã nói: người bạn trong lúc hoạn nạn là người bạn chân thực. Chú em là người bạn chân thật nhất của ta. Thánh hiền cũng nói: lấy ân báo ân, lấy oán bỏ oán. Ra khỏi cái lưới này, ta nhớ ơn chú em đời đời”.


Chuột dọ dẫm: “Thánh hiền nói một đằng, người ta làm một nẻo, bác ạ. Thánh hiền dạy: quân tử nhất ngôn; người ta lại nói: quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn. Giữ lời hứa mà có hại cho mình thì chả ai giữ đâu. Giữ lời hứa khi tình thế đã thay đổi thì thiên hạ cho là ngu. Kẻ mạnh thiếu gì cớ để bội hứa? Kẻ ấy chỉ làm bộ đạo đức giả để lừa phỉnh bọn thơ ngây thôi. Cai trị là vậy đó, bác à, là làm ra vẻ. Làm ra vẻ cho thật giỏi, giấu bộ mặt thật tận đáy ruột già. Như bác bây giờ đây, khi bác lim dim hai mắt, trông bác hiền khô như nữ tu cầu kinh. Ai thấy bác bây giờ mà chẳng muốn đồng minh đời đời với bác!”.


Mèo lắc đầu: “Sống là phải tin nhau, chú em ạ. Không tin nhau thì không có xã hội, cộng đồng gì ráo. Ta thề, có thần cây đa chứng giám: ra khỏi lưới, ta sẽ chuyển nghiệp, thấy chuột là bạn, thấy mọi kẻ thù của chuột cũng là kẻ thù của ta, ta với chú liên minh đời đời”.


Con chuột tiếp tục huyên thuyên vì huyên thuyên là chiến lược của nó. Không biết học thiền từ thủy tổ nào mà sức tập trung chú ý của loài mèo đạt đỉnh cao đến thế khi vờn chuột. Cho nên, để phi thân ra ngoài, con chuột phải đánh lạc hướng chú ý đó, lái nó qua hướng khác. Nó gạ gẫm: “Bác Mèo à, thấy bác nằm lim dim thế kia, em nhớ đến bà nội em ngày trước cũng nằm lim dim như vậy mỗi khi kể chuyện đời xưa cho em nghe. Có một chuyện hay lắm, em nhớ hoài, bác muốn nghe không, em kể bác nghe nhé. Mà bác phải lim dim thêm hai mắt nữa cơ, nghe mới thấm. Đấy, tốt rồi, em kể nhé. Đời xưa…”


Thưa Quan Tướng quốc, thế là con mèo lim dim nghe chuyện đời xưa. Khu rừng yên tĩnh, gió đong đưa, ve kêu rỉ rả, đây là giờ sảng khoái nhất của con mèo để ngủ gà ngủ gật trên cây. Huống hồ bây giờ lại có giọng kể chuyện ngọt ngào, mơn trớn.






Đời xưa, có một con cò sống trên một hồ nước không lớn nhưng không thiếu cá. Chị ta sống rất nhàn nhã, co một chân ngủ cả ngày, khi nào đói thì hạ chân kia xuống, đủng đỉnh nhúng hai chân vào nước, chộp vài con, không cá thì tôm. Ngày tháng trôi qua, chẳng mấy chốc mà cò cũng già, đứng một chân vẫn vững, nhưng đớp cá thì trật lất.


Để sống qua ngày, cò đành an ủi cái dạ dày bằng chuồn chuồn châu chấu bay lép nhép trong cỏ. Một hôm, một con cua to tướng ngứa chân bò lên bờ, thấy con cò đứng buồn thiu, động lòng, hỏi: “Chị Cò có chuyện tâm tình gì mà chống chân nhìn mây nước bảng lảng vậy?” Phú quý sinh lễ nghĩa, bần hàn sinh đạo tặc, thánh nhân đã dạy. Cho nên con cò rầu rỉ đạo từ: “Nguy lắm rồi, em ạ, chết đến nơi rồi. Chị đứng đây, bỗng nghe hai anh chàng đánh cá bàn nhau, mai mốt sẽ tát cạn hồ này để bắt cá. Cá chết thì cua cũng chết, mà chị cũng hết sống, cá đâu mà ăn?”


Cua tái mặt, vỏ đang xanh rêu thoắt thành trắng bệch. Đang bò ngang, nó đổi ra bò dọc để chạy xuống nước cho nhanh về báo động với tập thể cá. Hội đồng cá họp lại, cử hai đại diện đến gặp cò để thảo luận phương án bảo vệ an ninh cộng đồng. Đại diện nói: “Chị Cò ạ, tuy chị là kẻ thù của chúng em, nhưng bây giờ tất cả chúng ta đều chia sẻ cùng một số phận, xin chị chỉ cho chúng em chiến lược để cùng nhau thoát hiểm”.


Cò gạt phắt: “Thù oán gì nữa lúc này! Tình thế buộc chị em chúng ta phải đồng minh thôi. Chỉ có điều, trong liên minh thì phải tin nhau, thề sống chết với nhau, nghi ngờ nhau là chết cả lũ. Các em có thề như vậy không?”


Hai đại diện vẫy đuôi đành đạch: “Xin thề! Xin thề!” Cò thong thả: “Đàng kia, sau dãy đồi ấy, có một hồ nước, nước trong veo. Tổ tiên nhà chị dặn hoài con cháu: có xáo thì xáo nước trong. Đó là hồ nước mà chị đã dành để xáo. Bây giờ, vì tai biến, chị đành phải hiến hồ nước đó cho các em. Bắt đầu từ sáng mai, ta thực hiện kế hoạch di dân, chị lần lượt mang các em trên lưng, bay đến đấy thả các em xuống nước. Các em nhớ cắn vào lông chị thật chặt nhé!”


Hai đại diện thích chí quá, cám ơn rối rít. Cò thản nhiên: “Ân huệ gì! Nghĩa vụ đồng minh thôi mà. Sáng mai nhé!”


Nghe báo cáo của hai đại diện từ xa về, hội đồng cá mừng rơn, lập tức loan báo kế hoạch di dân vĩ đại. Ai đi trước? Tất nhiên lãnh đạo! Người vượt biên thế nào thì cá thế ấy, bản năng sinh tồn ai chẳng giống ai? Cho nên chủ tịch hội đồng cá xung phong đi đầu để làm gương.


“Nào, mời chủ tịch lên lưng!”, cò cong hai cẳng đón con cá dìa béo mập, vừa nói vừa chảy nước miếng. Hai chị em bay qua dãy đồi, chủ tịch chóng mặt quá, nghe gió vèo vèo qua tai mà khiếp. Cò luôn miệng nhắc : “Nhắm mắt lại, nhắm mắt lại! Cắn chặt lông, cắn chặt lông!” Có một lúc, tò mò thúc đẩy, chủ tịch hé mắt, nhìn xuống, kìa sao chỉ thấy đá lởm chởm phía dưới, hồ nước ở đâu? “Nước đâu? Nước đâu?”, chủ tịch hỏi. “Nước đây! Nước đây!”, con cò trả lời. Vừa nói, cò vừa chao hai cánh, qua trái, qua phải, lắc mạnh một cái, chủ tịch mất thăng bằng, té xuống mỏm đá, tan xương.


Cò lượn về lại hồ nước. Phó chủ tịch thứ nhất, phó chủ tịch thứ hai, tổng thư ký, đổng lý văn phòng … đã sắp hàng nôn nóng chờ đợi xung phong. Bảy lượt bay đi, bảy lượt bay về, toàn ban lãnh đạo và trợ tá đã gửi trọn xương cho đá, gửi liên minh cho âm phủ. Cuối ngày, con cò tự thưởng công lao động bằng một bữa tiệc ê hề, bù lại cả một chuỗi tháng ngày chay tịnh với cào cào châu chấu.


Cứ thế, chỉ sau ba ngày, con cò lấy lại sinh lực trai trẻ. Cho đến một hôm, con cua đòi đi. Nghi ngờ là tai hại cho liên minh, nó đã được học. Nhưng biệt vô âm tín của toàn ban lãnh đạo thì nó cũng đâm nghi. Về phần con cò, chiến dịch di dân đang thực thi viên mãn, tống cổ con cua vốn có tiếng là ngang, tránh không cho nó bàn ngang tán dọc với cộng đồng cá còn lại trong lúc khuyết lãnh đạo, cũng là chuyện cần thiết quá.


Cho nên cò đon đả đón cua lên lưng, vận dụng sức lực tải một hành lý quá nặng. Bay qua vùng đá lởm chởm, mặc cho cò nhắc lui nhắc tới phải nhắm mắt, cua vẫn trừng trừng hai mắt nhìn xuống. “Nước đâu?”, nó hỏi. Con cò he he chế giễu: “He he … các em của chị ngốc cả lũ, thảo nào trời đày chúng mày xuống nước. Bộ chúng mày tưởng dân ở trong nước với dân ở trên trời có thể đồng minh với nhau hả? Đây này, nước đây!” Nó chao cánh, nhưng ô hay, sao cổ nó có cái gì chận lại? Khẹt khẹt, có cái gì kẹp cổ nó thế? Ông bà ông vải ơi, cái càng cua! Một càng, rồi hai càng! Với hai càng kẹp cứng cổ cò, con cua ra lệnh: “Bay về lại hồ nước! Nhanh lên! Hạ cánh an toàn!”


Con cò vừa đặt chân xuống đất thì càng cua riết chặt cổ nó đứt ra làm hai.


Thưa Quan Tướng quốc, con mèo lim dim nghe kể đến đoạn cổ đứt làm hai, giật mình mở mắt. Thì ô hô, ha ha, con chuột đã nhảy tót ra ngoài! An toàn trước cửa hang, nó phách lối: “Bác Mèo ơi, không có thù nào là bất cộng đới thiên nhưng cũng chẳng có bạn nào là thiên thu bất diệt. Phút này thế này, phút kia đã thế khác, vô thường trong từng sát na mà! Kẻ yếu dám cương mặt lên với kẻ mạnh cũng nhờ vậy thôi, có những tình thế khiến kẻ mạnh phải quỳ trước kẻ yếu. Nhưng yếu mà cứ tưởng kẻ mạnh nó tốt thì đứt cổ, bác ạ”.


Ngày xuân kể chuyện dông dài, mong không đến nỗi làm nhạt chén rượu đào của Quan Tướng quốc. Kính chúc Quan Tướng quốc vạn tuế, vạn vạn tuế.


2/2/10

Tường trình buổi làm việc cuối cùng …

Tường trình buổi làm việc cuối cùng của tôi với tổ chức đảng
Phạm Đình Trọng

“… Lời tâm huyết của những trí tuệ hàng đầu đất nước còn không được lắng nghe thì những ý kiến nông nổi của tôi nào có nghĩa lí gì! Trong tình thế đó, với thời cuộc này thì đây là những dòng cuối cùng tôi viết trực tiếp về thế sự!…”
Đảng uỷ quận Tân Bình
Đảng uỷ phường 15
Thư mời

Ban chấp hành đảng bộ phường 15 (Dòng trên là đảng uỷ phường 15, ngay dòng dưới lại là đảng bộ phường 15), kính mời đảng viên Phạm Đình Trọng đến tại: Hội trường A – UBND phường 15, số 822 Trường Chinh, phường 15, quận Tân Bình lúc 08 giờ 00 ngày 18 tháng 1 năm 200 (năm 2010 nhưng thiếu số 1 giữa hai số 0).
Nội dung: Theo đơn Thông báo về việc từ bỏ đảng tịch. Rất mong các đồng chí đến dự đúng thời gian.
T/M Đảng uỷ.
Phó bí thư Bành Anh Tuấn

*
Đọc thư mời trên, tôi xác định ngay sẽ tham dự cuộc họp, mặc dù trước đó tôi đã từ chối mọi lời mời dự sinh hoạt đảng. Ngày 23.11.2009, tôi đưa cho tổ chức đảng Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản. Từ đó tôi đã từ chối tất cả những lời mời đi họp tổ đảng, họp chi bộ: “Tôi đã từ bỏ đảng là chấm dứt mọi liên quan với đảng”. Nhưng tôi sẽ tham dự cuộc họp này với đảng uỷ phường 15.

Thành phần dự họp có bốn cấp: Quận uỷ, đảng uỷ phường, chi uỷ, tổ trưởg đảng. Quận uỷ có: Phó ban kiểm tra, cán bộ ban kiểm tra, phó ban tuyên giáo, phó ban dân vận, cán bộ ban tổ chức, cán bộ văn phòng quận uỷ. Đảng uỷ phường có: Bí thư, phó bí thư, trưởng và phó ban kiểm tra. Ngoài ra còn có chủ tịch hội Cựu chiến binh phường.

Trưởng ban kiểm tra đảng uỷ phường 15 mở đầu cuộc họp nói rằng: Trong cuộc họp chi bộ khu phố Bốn, ngày 6.12.2009, 56/56 đảng viên ở chi bộ đã biểu quyết nhất trí khai trừ đồng chí Trọng ra khỏi đảng. Nay đảng uỷ phường muốn nghe thêm về suy nghĩ, tâm tư của đồng chí Trọng. Sao kì vậy ta? Ngay cả việc xét xử tội phạm hình sự, bị can còn được nói lời cuối cùng rồi tòa mới tuyên án. Chỉ 13 ngày sau khi tôi đưa Thông báo từ bỏ đảng, chi bộ đã mau lẹ triệu tập họp khai trừ tôi. Vậy mà 42 ngày sau khi khai trừ tôi ra khỏi đảng, đảng uỷ mới cho tôi nói lời cuối cùng là sao? Cách làm giễu cợt cả quy ước luật pháp và giễu cợt con người đến vậy sao? Cố nén lòng lại để giữ bình tĩnh, tôi đứng lên. Đã từ lâu tôi không dùng từ đồng chí. Nay không còn là đảng viên nữa, tôi càng không muốn dùng từ đó.

Tôi nói:

- Thưa các anh! Thưa các chị! Dù thấy rõ trong quá khứ đảng có nhiều sai lầm với dân tộc và theo tôi, trong hiện tại đảng cũng đang trượt trong sai lầm cả trong đối nội và đối ngoại nhưng trước ngày 13.11.2009, tôi chưa hề có ý định từ bỏ đảng. Tôi vẫn muốn tham gia, có ý kiến với đảng với tư cách là đảng viên đóng góp xây dựng đảng để đảng khắc phục sai lầm, đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử đưa đất nước bước vào thời kì phát triển huy hoàng. Nhưng cuộc họp với đảng uỷ phường 15 ngày 13.11.2009 đã đưa tôi đi đến quyết định từ bỏ đảng!

Tôi đưa bài viết «Ăn mày dĩ vãng – Thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh» cho tổ chức đảng là để đảng nhìn lại một chủ trương, một việc làm hình thức, không thật lòng. Đây là một vấn đề của tư tưởng văn hóa, là một sinh hoạt tư tưởng. Lẽ ra cơ quan tuyên giáo của đảng phải gặp tôi, chân thành và trung thực trao đổi với tôi xem bài viết của tôi đúng sai thế nào. Nếu tôi sai, khi đó cơ quan kiểm tra đảng mới vào cuộc xem xét đánh giá mức độ sai trái của tôi để xử lí. Nhưng tổ chức đảng đã không có được nề nếp dân chủ, không có được sự cầu thị, lắng nghe. Cơ quan tuyên giáo, cơ quan lí luận tư tưởng của đảng từ thấp đến cao đều làm thinh trước đóng góp chân thành và thẳng thắn của tôi, để cơ quan kiểm tra đảng là cơ quan kỉ luật phán xét bài viết của tôi!

Ngày 11.9.2009, ban kiểm tra đảng uỷ phường 15 mời tôi đến “trao đổi về bài viết ‘Ăn mày dĩ vãng’” chỉ để hỏi tôi đã gửi bài viết cho những ai ! Ngày 13.11.2009, đảng uỷ phường 15 lại mời tôi đến “Nghe UBKT/ĐU (Ủy ban kiểm tra đảng uỷ) thông báo việc giải quyết tài liệu “Ăn mày dĩ vãng – Thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”. Ban kiểm tra đảng uỷ phường 15 đã tự đặt họ ở vị trí quá cao. Bài viết Ăn mày dĩ vãng của tôi nêu những vấn đề về tư tưởng, lí luận và thực tiễn đặt ra với cơ quan tuyên giáo trung ương và cơ quan lí luận trung ương đảng. Ban kiểm tra đảng uỷ phường 15 không có phận sự và cũng không đủ tầm giải quyết!

Nhưng suốt hơn nửa thế kỉ cầm quyền, ỷ vào quyền lực và quen cách hành xử áp đặt của chuyên chính vô sản, đảng và nhà nước ta đã tạo ra một thói quen, một thông lệ là: Những hoạt động xã hội nào cơ quan nhà nước do năng lực yếu kém hoặc do tiêu cực không quản lí được liền dùng quyền lực để cấm! Những vấn đề, những vụ việc gì cơ quan chức năng không giải quyết được bằng lí lẽ, bằng lẽ phải liền dùng sức mạnh công cụ, dùng quyền uy của tổ chức để trị! Dù ở cấp quyền lực thấp nhất của tổ chức đảng, ban kiểm tra đảng uỷ phường 15 cũng rất thuần thục trong cách hành xử đó! Và cách trị dễ nhất, tiện nhất, nhanh nhất và đã đời nhất là đẩy kẻ cần trị sang phía các thế lực thù địch, có tư tưởng chống đối, không còn trung thành với đảng, với Tổ quốc nữa!

Những ý kiến thẳng thắn và chân thành của tôi về một việc làm không thật lòng của đảng, về một nếp tư duy, một cách làm công tác tư tưởng của đảng không còn phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay. Vấn đề đó vượt ra ngoài rất xa tầm của ban kiểm tra đảng uỷ cấp phường. Không đủ tầm giải quyết, ban kiểm tra phường 15 chỉ còn cách bác bỏ thẳng thừng những ý kiến chân thành và thẳng thắn của tôi. Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng, bài viết Ăn mày dĩ vãng của tôi nêu ra những sự thật trần trụi, nghiệt ngã. Những sự thật đó là hiển nhiên, tôi không thể bịa đặt! Nói ra sự thật đã khó nhưng biết nghe sự thật còn khó hơn! Phải trung thực và dũng cảm mới dám nhìn vào sự thật không đẹp đẽ, mới tiếp cận được chân lí. Đảng đã mở đầu sự nghiệp đổi mới bằng sự dũng cảm: Nhìn thẳng vào sự thật! Nhưng ngày nay sự dũng cảm ấy dường như đã vắng bóng! Đảng hôm nay miệng vẫn nói đổi mới đấy nhưng lòng dũng cảm không còn và bản lĩnh cũng không đủ thì không thể đổi mới, đành làm theo bài bản cũ, giáo điều, rập khuôn!

Tán dương, hùa theo, nói leo chính thống thì dễ quá, lại an toan và dễ bề thăng tiến. Nhưng hùa theo, tán dương những việc làm trái với tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh là đã phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh. Lòng trung thực và sự lương thiện không cho tôi làm điều đó. Thẳng thắn chỉ ra những chủ trương, những việc làm trái với tư tưởng chân chính của Hồ Chí Minh là tôi đã dũng cảm bảo vệ tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh. Hùa theo sai trái của chính thống trong việc làm trái với tư tưởng thực sự của Hồ Chí Minh, ban kiểm tra đảng uỷ phường 15 đã vu cho tôi tội xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh!

Không đủ dũng cảm nhìn vào sự thật cay đắng thì người nói ra sự thật tất sẽ mang vạ! Tôi hiểu điều đó nhưng vì còn tin yêu đảng, vì đảng chính là một phần cuộc đời tôi nên tôi phải chỉ ra sự thật. Phải nặng lòng với đảng lắm tôi mới viết ra những điều day dứt, xót xa tự trong sâu thẳm lòng mình với đảng. Không đủ tầm tư tưởng, cũng không đủ tấm lòng cởi mở nhìn nhận vấn đề, ban kiểm tra đảng uỷ phường 15 với tư duy xơ cứng, với chức năng qui kết, với ngôn từ quen thuộc đã đẩy tôi sang phía đối lập với đảng, biến tôi thành tội đồ của đảng, tội đồ của Tổ quốc! Trong cuộc họp ngày 18.01.2010 với cán bộ quận uỷ Tân Bình và đảng uỷ phường 15 tôi đã gọi tên việc làm đó của ban kiểm tra đảng uỷ phường 15 là: về nhận thức, đó là độc quyền chân lí, về cách làm là cả vú lấp miệng em!

Ỷ vào sức mạnh của tổ chức, của bạo lực chuyên chính, của độc quyền chân lí là cách hành xử của những người năng lực yếu kém. Cách hành xử này không phải chỉ có ở đảng uỷ phường 15 quận Tân Bình mà là cách hành xử khá phổ biến của các cơ quan đảng và nhà nước ta hiện nay. Bỏ ngoài tai sự đóng góp trung thực của tôi, những người đã làm nhiều điều trái với tư tưởng thật sự của Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục dùng đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân rầm rộ phô trương một việc làm không thật lòng: Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh! Trước thực trạng đó, tôi thấy chỉ còn cách từ bỏ sự không trung thực đó để được vẫn trung thành với lí tưởng chân chính của đảng mà tôi đã hiến dâng những năm tháng đẹp nhất cuộc đời. Tôi phải tách ra khỏi những việc làm ngược với tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh để tôi vẫn được trung thành với lí tưởng vì nước vì dân của Hồ Chí Minh.

Dù đã ra khỏi đảng nhưng đảng vẫn là một phần cuộc đời tôi, đảng vẫn còn trong máu thịt tôi nên đảng tốt đẹp thì tôi cũng mở mày mở mặt, đảng chưa tốt thì tôi cũng xót xa, phiền muộn. Vì thế trong buổi làm việc cuối cùng của tôi với tổ chức đảng ngày 18.01.2010, tôi phải thưa với tổ chức đảng một nỗi phiền muộn là:

Ngày 23.11.2009, tôi đưa cho tổ chức đảng Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản. Từ đó cho đến cuộc họp ngày 18.01.2010, tổ chức đảng không có một lời với tôi. Nhưng đầu tháng 1 năm 2010, con trai tôi là Kiến trúc sư bỗng nhận được liên tiếp hai cuộc điện thoại của một người đàn ông không xưng tên, không nói là người ở cơ quan nào đe nẹt con trai tôi rằng muốn yên ổn làm ăn thì phải nói với bố đừng viết bài chống đảng nữa! Tiếp đến ba người phụ nữ xưng là ở hội Phụ nữ quận, hội Phụ nữ phường và tổ phụ nữ khu phố đến gặp con gái tôi cũng nói với con gái tôi như người đàn ông đã gọi điện nói với con trai tôi! Là đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước, dù là tổ chức đảng ở cấp phường cũng cần hành xử với tư thế “đường đường phương diện quốc gia”. Là công dân, tôi có đầy đủ trách nhiệm trước pháp luật. Là người lính đã để lại toàn bộ năm tháng tuổi trẻ vào cuộc kháng chiến giữ nước, tôi không thể không suy nghĩ, trăn trở cùng nhân dân, cùng đất nước tôi. Là nhà văn, những nghĩ suy trăn trở ấy phải trở thành trang viết. Những trang viết đó để ghi nhận, phát hiện hiện thực đất nước và giãi bày hiện thực trong lòng tôi. Những trang viết đó không phải để chống đảng. Tôi đã có đủ tư thế và lòng dũng cảm nêu những vấn đề của đất nước, của cuộc sống thì tôi cũng có đầy đủ trách nhiệm trước những trang viết của tôi về những vấn đề đó. Đe doạ cuộc sống làm ăn của con tôi để gây áp lực với tôi là việc làm không sòng phẳng, không đàng hoàng ở tư thế phương diện quốc gia!

Ngay sau hôm tôi làm việc với tổ chức đảng, một đại tá hưu trí ở hội Cựu chiến binh quận Tân Bình, đại tá Lê Minh Phong đến gặp tôi. Ông nói rằng: Bí thư quận uỷ Tân Bình Nguyễn Thị Kim Hoàng và cả phó Bí thư thường trực thành uỷ Nguyễn Văn Đua đều có lời đề nghị ông đến gặp và nói chuyện với tôi. Tôi ghi nhận sự quan tâm của Bí thư quận uỷ Tân Bình Nguyễn Thị Kim Hoàng và phó Bí thư thường trực thành uỷ Nguyễn Văn Đua dành cho tôi. Trước sự quan tâm đó, tôi viết những dòng này để giãi bày sự son sắt trung trinh đối với đảng của tôi. Ra khỏi đảng Cộng sản nhưng trong tôi mãi mãi còn một đảng lớn lao, thiêng liêng là đảng của Dân tộc Việt Nam.

Vua sáng mới dùng được tôi hiền. Người trung thực, tâm sáng mới nghe được lời nói thẳng. Đến Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, nơi tập hợp những lõi sáng hàng đầu đất nước còn phải tự giải tán. Lời tâm huyết của những trí tuệ hàng đầu đất nước còn không được lắng nghe thì những ý kiến nông nổi của tôi nào có nghĩa lí gì! Trong tình thế đó, với thời cuộc này thì đây là những dòng cuối cùng tôi viết trực tiếp về thế sự! Giã từ thế sự để trở về giấu mình vào văn chương! Lại nhớ ông Nghè Nguyễn Khuyến, một người hiền ba lần đỗ giải nguyên nhưng gặp phải thời triều đình nhà Nguyễn lần lượt dâng từng phần đất đai gấm vóc của tổ tiên cho thực dân Pháp để giữ lấy ngai vàng, Nguyễn Khuyến cũng phải lui về giấu mình vào văn chương khi mới bốn mươi tám tuổi. Tưởng giấu mình vào văn chương nhưng nỗi niềm Nguyễn Khuyến cứ lồ lộ trong văn chương: Ơn vua chưa chút báo đền / Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn Trời! Khi thân phận kẻ sĩ đã gắn liền với thân phận đất nước thì chẳng thể nào an phận với riêng mình: Nếu trơ như đá thì đâu khổ / Còn chút lương tâm mới khó nguôi!
Phạm Đình Trọng
© Thông Luận 2010

Thời nghịch lí


Phạm Đình Trọng

“…vì mối liên minh cố kết giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc mà nhà nước ta không dám tố cáo, phản kháng hành động kẻ cướp đó và nhân dân bộc lộ sự phẫn nộ với kẻ cướp đất đai lãnh thổ thì bị bắt bớ, tù đày. Đó là cách hành xử thiển cận vì phương tiện hi sinh mục đích, vì lợi ích của Đảng mà hi sinh lợi ích dân tộc…”
Một trang web của Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương, mang tên miền nhà nước ta, gov.vn, để cho phía Trung Quốc sử dụng đưa thông tin theo ý đồ Trung Quốc, khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc, đó thực sự là vụ việc xâm hại nghiêm trọng lợi ích quốc gia, tiếp sức cho tham vọng bành trướng của Trung Quốc thôn tính biển đảo của tổ tiên ta, gây tổn hại lâu dài đến pháp lí về chủ quyền của ta đối với Trường Sa, Hoàng Sa!

Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam sốt sắng đăng lại bài trên báo Trung Quốc đưa tin chi tiết về hoạt động của hải quân Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa của ta mà Trung Quốc đánh chiếm từ năm 1974, đưa cả lời giáo huấn binh lính của người chỉ huy hải quân Trung Quốc rằng những hoạt động của họ ở Hoàng Sa là để bảo vệ biên cương phía nam của tổ quốc Trung Quốc. Đăng bài như vậy báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp sóng tuyên truyền cho báo chí Trung Quốc, khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ Trung Quốc, như các đài truyền hình các tỉnh ở ta tối tối vẫn tiếp sóng chương trình Thời sự của đài truyền hình trung ương phát đi từ Hà Nội. Việc làm nô lệ vọng về Bắc triều này không những xâm hại nghiêm trọng lợi ích quốc gia, tiếp tay cho hành động cướp đất đai biển trời của ta mà còn xúc phạm vong hồn những người Việt Nam yêu nước đã ngã xuống để giữ gìn những núm cát Hoàng Sa của tổ tiên. Máu của họ đã tan trong nước biển, xác cũng không còn nữa, chỉ còn hồn thiêng của họ ở lại với đất đai tổ tiên. Nay báo điện tử của đảng cầm quyền cũng nói theo báo Trung Quốc rằng đất đai của tổ tiên những hồn thiêng ấy đã là biên cương Trung Quốc rồi!

Hai sự việc gây nguy hại lợi ích quốc gia ở cấp nhà nước đã được cơ quan pháp luật bỏ qua! Nhưng những người dân thường bộc lộ lòng yêu nước, nhà giáo, nhà văn treo băng chữ Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam, nhà báo viết trên báo của cơ quan nhà nước, người chơi blog viết trên trang mạng của mình nói lên tiếng nói của hàng triệu trái tim Việt Nam lên án hành động cướp biển của Trung Quốc, ngang ngược phong toả ngư trường ngàn đời của dân ta, xua đuổi, bắt bớ, bắn giết dân ta đánh cá thì liền bị pháp luật trừng trị, bị bắt khẩn cấp vì tội xâm hại lợi ích quốc gia!

Những nghịch lí trên bộc lộ nhiều điều chưa ổn về đường lối đối nội, đối ngoại, về bộ máy nhà nước, nơi thực thi pháp luật với người dân, về nhận thức và cách thực hiện mối quan hệ giữa dân tộc và đảng cầm quyền. Chỉ xin nêu ba nghịch lí, ba điều chưa ổn nổi cộm.

1. Mọi công dân Việt Nam không được bình đẳng trước pháp luật

Hiến pháp năm 1992 là hiến pháp hiện hành đã dành riêng một điều để làm nổi rõ nội dung: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Nhưng thực tế, bộ máy nhà nước thực thi hiến pháp, pháp luật đã xử sự theo cách: Mọi công dân không được bình đẳng trước pháp luật! Thành ngữ mới của dân gian đương thời có câu: “Tắm từ chân trở xuống” để đúc kết một thực tế là luật pháp được vận hành quá nghiệt ngã, tùy tiện với dân thường nhưng lại quá nương nhẹ, bỏ qua với quan chức. Quan chức càng cao thì sự nương nhẹ, bỏ qua càng lớn. Tham những lộng hành tràn lan làm cho cơ thể xã hội VIệt Nam quá lem luốc, bệnh tật, cần phải mạnh tay tắm rửa, kì cọ, sát trùng từ đầu trở xuống. Phải có chức quyền mới có thể tham nhũng! Cấp trên phải đồng thuận, cấp dưới mới có thể tham nhũng! Tôi xin phép Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng mượn chữ “đồng thuận” của ông khi ông nói rằng dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên được sự đồng thuận của xã hội! Thực tế khẳng định rằng hoàn toàn không có chuyện người dân đồng thuận với dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, nhưng trong một số vụ án tham nhũng lớn phải có sự đồng thuận trên dưới!

Số tiền gần một triệu đô la phía Nhật Bản hối lộ để trúng thầu dự án Đại lộ Đông Tây và môi trường nước ở thành phố Hồ Chí Minh thì ông giám đốc dự án Huỳnh Ngọc Sĩ không dám và không thể nuốt một mình. Phải có sự đồng thuận của một cấp trên nào đó. Người đưa hối lộ phía Nhật Bản đã khai rõ tên tuổi, chức vụ người nhận hối lộ phía Việt Nam, đã khai rõ số tiền hối lộ. Toà án Nhật Bản đã phán quyết. Người đưa hối lộ đã chấp hành xong bản án. Sự việc rõ ràng, chứng cứ cụ thể đến thế, nếu bộ máy nhà nước Việt Nam thực sự quyết tâm chống tham nhũng, nếu không có uẩn khúc phía sau, không có vùng “kiêng tắm” thì cơ quan pháp luật Việt Nam phải chủ động, nhanh chóng và quyết liệt vào cuộc. Nhưng phía Việt Nam, nơi có người nhận hối lộ lại nói ráo hoảnh, dửng dưng để hoãn binh và phủi trách nhiệm: Cứ đưa chứng cứ đây, chúng tôi sẽ xử lí! Cho đến nay, ông Huỳnh Ngọc Sĩ, người bị phía Nhật Bản nêu tên nhận hối lộ mới chỉ bị truy tố về tội mang nhà công vụ cho phía nhà thầu Nhật Bản thuê, lấy tiền chia chác nội bộ, chỉ là tội riêng của mấy thầy trò ông Sĩ, không dính dáng đến cấp cao nào. Còn vụ án chính nhận hối lộ gần một triệu đô la thì hồ sơ vẫn đang nằm trên bàn các cơ quan có trách nhiệm để nghiên cứu và để chờ xin ý kiến cấp trên! Những diễn biến trên làm cho người dân dù vô tư, tin tưởng vào nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đến đâu cũng phải nhận ra sự không bình thường, cũng phải nghi vấn về những sự đồng thuận ở phía sau và cũng phải nhận ra sự nương tay của pháp luật dành cho ông giám đốc nhận hối lộ!

Chỉ tội nghiệp cho những dân đen chốn nhân gian, những Mẹ Nấm, Người Buôn Gió… chỉ vì viết blog bày tỏ lòng yêu nước, bày tỏ sự bất bình trước việc Trung Quốc ngang ngược lộng hành cướp biển của ta, bắt giết dân ta mà bị khép tội xâm hại lợi ích nhà nước! Lên án kẻ cướp đất, cướp biển, cướp đảo, khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa là lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc Việt Nam mà xâm phạm lợi ích nhà nước thì lợi ích nhà nước ấy là bảo vệ kẻ xâm lược sao? Thì nhà nước ấy chối bỏ Trường Sa, Hoàng Sa không phải là biển đảo Việt Nam sao?

Hiến pháp ghi: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Nhưng Mẹ Nấm buộc phải cam kết từ bỏ quyền công dân đã được hiến pháp trao cho, cam kết không được viết blog nữa mới được công an Khánh Hoà trả tự do. Hiến pháp ghi: Công dân có quyền tư do đi lại và cư trú ở trong nước. Không có tội, không có lệnh của pháp luật cấm đi khỏi nơi cư trú, luật sư Lê Trần Luật từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội trợ giúp pháp lí cho giáo dân Thái Hà kiện cơ quan thông tin nhà nước nhưng luật sư Lê Trần Luật ra đến sân bay Tân Sơn Nhất thì bị công an thành phố Hồ Chí Minh buộc phải quay về nhà!

Nương tay với những quan chức nhà nước hư hỏng và vi phạm pháp luật gây nguy hại lợi ích nhà nước và an ninh quốc gia nhưng bộ máy nhà nước đã vận hành thô bạo và tùy tiện tước đi quyền công dân, tước đi cả lòng yêu nước của người dân! Một nhà nước như vậy mà là nhà nước của dân, do dân, vì dân sao?

2. Nhà nước không cùng tiếng nói yêu nước với nhân dân

Dân tộc nào cũng coi độc lập dân tộc là giá trị tối cao và giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ là sự sống còn của dân tộc, là nghĩa vụ thiêng liêng của các thế hệ nối tiếp. Độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ đã trở thành lẽ sống, thành ý chí của mọi dân tộc. Không có ý chí độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, dân tộc sẽ bị xoá sổ. Có những dân tộc đã để lại cả nền văn minh huy hoàng, để lại những đền tháp uy nghi mang triết lí rất sâu sắc, thâm trầm mà dân tộc đó nay chỉ còn cái tên, không còn không gian lãnh thổ, không còn cộng đồng dân cư cố định. Tên gọi dân tộc đó chỉ nhắc đến sai lầm của người đứng đầu dân tộc ở thời điểm lịch sử không được phép sai lầm. Tên gọi dân tộc đó chỉ gợi một quá khứ đau buốn, tủi hờn, ngậm ngùi.

Ở liền kề với nhà nước Trung Quốc khổng lồ, luôn lăm le lấn đất, thôn tính lân bang thì ý chí độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc ta càng phải mãnh liệt, sắt đá. Ý chí ấy đã trở thành tài sản tinh thần vô giá, tạo nên khí phách Việt Nam “Thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” và là yếu tố quyết định nhất để núi sông biển trời Việt Nam còn lại đến hôm nay, để dân tộc Việt Nam tồn tại đến hôm nay.

Vừa kết thúc cuộc chiến tranh giữ nước ba mươi năm chống Pháp rồi chống Mĩ, cả dân tộc đã kiệt sức, như lả đi, những người lính da còn tái xanh vì sốt rét, mặt còn hốc hác vì thiếu ăn, thiếu ngủ, hình hài xiêu vẹo vì thương tật nhưng khi phương Bắc đưa đại quân tràn qua biên giới nước ta, dân tộc ta lại đứng lên mạnh mẽ như Thần Phù Đổng, lại trùng trùng đội ngũ hành quân từ bưng biền Nam Bộ, từ rừng núi Khu Năm, từ châu thổ sông Hồng lên biên giới phía Bắc chặn giặc. Hàng chục ngàn dòng máu con Hồng cháu Lạc lại tuôn chảy, hàng chục ngàn sinh mạng Việt Nam lại ngã xuống để bảo vệ biên cương. Đó là ý chí độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.

Khi Trung Quốc sáp nhập Hoàng Sa, Trường Sa, máu thịt của cơ thể Tổ quốc Việt Nam vào phủ huyện Trung Quốc thì thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh lập tức tự động gọi nhau tập hợp kéo đến cơ quan đại diện của Trung Quốc thét vang: Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó là ý chí độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.

Khi Trung Quốc giăng tàu chiến phong toả biển của ta, đâm chìm tàu hải quân ta, không cho dân ta đánh cá trên biển của ta, cướp tàu, cướp cá của dân ta, bắt bớ, bắn giết dân ta, trong khi cả hệ thống gần ngàn cơ quan truyền thông của nhà nước chỉ thông tin sự việc dè dặt và nhỏ giọt như chỉ dám nói thầm trong cổ họng, bàng quan như sự việc xảy ra trên cung trăng, đôi mắt của gần ngàn cơ quan truyền thông nhà nước như nhắm tịt lại trước lãnh thổ thiêng liêng bị xâm phạm, trước số phận đất nước bị đe doạ, trước cuộc sống của nhân dân bị cướp giật, tính mạng nhân dân bị mất mát, thì hầu hết những trang blog của người dân Việt Nam, những tờ dân báo, những đôi mắt chong chong thức cùng số phận đất nước, thức cùng sinh mạng dân tộc, đã nhanh chóng thông tin đầy đủ hành động lục lâm thảo khấu của phương Bắc, bày tỏ ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Những trang blog đó bừng bừng một khí thế Sát Thát.

Đó là ý chí của nhân dân. Nhưng nhà nước lại không cùng ý chí với nhân dân!

Ngày 17 tháng Hai năm nay, kỉ niệm tròn ba mươi năm, 1979 – 2009, cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới ở phía Bắc nhưng gần một ngàn cơ quan thông tấn báo chí của nhà nước không một lời nhắc đến hàng chục ngàn dòng máu con Hồng cháu Lạc đã đổ ra bảo vệ biên cương Tổ quốc. Đạo lí Việt Nam “Uống nước nhớ nguồn” đâu có dạy người Việt Nam vô ơn bạc nghĩa! Sao nhà nước bây giờ lại xử sự bạc bẽo với liệt sĩ, với lịch sử như vậy?

Ngày 3. 12.2007, nhà nước Trung Quốc công bố quyết định sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào đơn vị hành chính Tam Sa của Trung Quốc. Lập tức Chủ nhật 9. 12. 2007 và 16. 12. 2007, thanh niên Việt Nam mang cờ Tổ quốc và băng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” tập hợp đông đảo trước cơ quan đại diện Trung Quốc ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đó là việc làm chính đáng và vô cùng cần thiết khẳng định ý chí độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Nhà nước huy động lực lượng công an hùng hậu trấn áp bạo liệt sự tập hợp của lòng yêu nước, bắt giam những người mạnh mẽ phản kháng sự xâm lăng của Trung Quốc thì nhà nước ấy có còn đại diện cho ý chí độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam?

Cơ quan Chính phủ, cơ quan thông tin nhà nước nối tiếp nhau nói tiếng nói của Trung Quốc, phụ hoạ với Trung Quốc trong việc hợp thức hoá việc cướp biển, cướp đảo của ta thì được pháp luật dung túng bỏ qua. Người dân nói tiếng nói yêu nước bảo toàn lãnh thổ thiêng liêng thì bị bắt bớ! Sao nhà nước ta bây giờ lại không cùng tiếng nói yêu nước với nhân dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của đất nước như vậy?

3. Đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích dân tộc

Từ những nghịch lí trên, người dân phải cay đắng nhận ra một sự thật là: Đảng lãnh đạo nhà nước và nhà nước đã đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích của dân tộc!

Sau khi chính quyền cộng sản ở Liên Xô và một loạt nước Đông Âu sụp đổ, vài nước cộng sản còn lại trở thành những hòn đảo lẻ loi, khắc nghiệt bên cạnh những lục địa tư bản rộng lớn và tươi xanh. Nước cộng sản nhỏ bé như Việt Nam thì hòn đảo ấy càng mong manh.

Trước sự tan vỡ của cả khối cộng sản lớn, đáng ra phải bừng tỉnh về nhận thức để thấy rằng sự tan vỡ đó là sự phát triển tất yếu của cuộc sống, của tiến hoá, là sự vận động nội tại ngay trong lòng xã hội các nước cộng sản đó để phá vỡ sự kìm hãm phát triển, từ bỏ những nguyên lí giáo điều trái qui luật, trái tự nhiên, trở về đúng qui luật phát triển xã hội. Nhận thức được như vậy ắt sẽ phải hiểu rằng muốn tồn tại không phải là phải tìm đồng minh liên kết với một nước nào mà trước hết phải tự giải phóng khỏi những tư tưởng kìm hãm phát triển để hoà nhập với nhân loại, trở thành một phần hữu cơ của nhân loại, đồng thuận với nhân loại trong mọi sinh hoạt, trong mọi lo toan vì cuộc sống tốt đẹp của con người. Khi đó cả nhân loại lương thiện và nhân văn sẽ ở bên Việt Nam, là đồng minh lớn lao và tin cậy của Việt Nam.

Trong xã hội cũng như trong mỗi con người, sự giải phóng luôn đặt ra, luôn có tính thời sự. Giải phóng đất đai khỏi xâm lăng. Giải phóng con người khỏi nô lệ. Giải phóng những trái tim khỏi những cuộc hôn nhân không tình yêu… Quan trọng nhất là gỉai phóng tư tưởng khỏi những trói buộc phản tự nhiên, phản con người, phản tiến hoá. Năm 1945 châu Âu được giải phóng khỏi hoạ phát xít nhưng một phần châu Âu lại vướng vào tư tưởng triết lí vừa viển vông vừa khắc nghiệt để rồi liên tục đấu tranh, liên tục bạo lực cách mạng, liên tục đổ máu mà xã hội thì triền miên trì trệ trong khi những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật liên tiếp đưa thế giới ào ạt phát triển mang lại phồn vinh cho xã hội và mang lại mức sống ngày càng cao cho người dân ở những nước không vướng vào tư tưởng triết lí giáo điều. Mãi đến 1990 – 1991 phần châu Âu trì trệ này mới tự giải phóng tư tưởng cho mình.

Cũng như một phần châu Âu sôi sục cách mạng, Việt Nam cũng bị cuốn vào cuộc cách mạng xã hội và cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt. Gần nửa thế kỉ đấu tranh cách mạng và chiến tranh, Việt Nam đã giải phóng đất nước khỏi những đội quân nước ngoài chiếm đóng. Cùng chung hoàn cảnh, cùng chung số phận, cùng chung hệ tư tưởng nhưng khi phần châu Âu trì trệ làm cuộc cách mạng thứ hai giải phóng tư tưởng thì Việt Nam lại làm ngược lại: Kiên định tư tưởng xã hội chủ nghĩa! Đây là thời điểm có cơ hội đột biến tạo bước ngọăt lớn, đòi hỏi trí tuệ, tài năng và sự mẫn cảm, nhạy bén của người lãnh đạo đất nước. Nhưng những tư duy Việt Nam xơ cứng đã nhìn sự sụp đổ của thế giới cộng sản châu Âu không phải do sự vận động nội tại tất yếu trong lòng xã hội cộng sản mà là do: Mĩ và phương Tây muốn cơ hội này xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm! (Lập luận của ông Lê Đức Anh, ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam được dẫn trong hồi kí của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ). Tư duy phe đảng còn nặng nề như vậy, ý thức hệ tư tưởng còn thít chặt như vậy, tất phải tìm đến sự cố kết ý thức hệ: Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc (Vẫn lời ông Lê Đức Anh được dẫn trong hồi kí Trần Quang Cơ).

Để duy trì hệ tư tưởng cộng sản, để bảo đảm sự độc tôn thống trị xã hội của Đảng Cộng sản, từ năm 1990 Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ động cố kết liên minh với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Rõ ràng sự cố kết liên minh này chỉ vì hệ tư tưởng cộng sản, chỉ vì lợi ích của Đảng Cộng sản. Thật bất hạnh cho dân tộc Việt Nam khi nhà nước Việt Nam liên minh lép vế, bất bình đẳng với một nhà nước khổng lồ luôn rắp tâm thôn tính đất nước Việt Nam, nô dịch nhân dân Việt Nam. Sự thôn tính nô dịch này đã diễn ra từ hàng ngàn năm lịch sử, ngay từ khi có nhà nước. Những ngày gần đây sau khi có liên minh bất bình đẳng Việt – Trung, sự thôn tính, nô dịch đó càng ngạo ngược, dồn dập ở mọi mặt đời sống xã hội: Chính trị, Địa lí, Kinh tế, Văn hoá, Thông tin Tuyên truyền… Để che giấu, lấp liếm hành động thôn tính, nô dịch Việt Nam, họ vừa không muốn ai nhắc đến những hành động kẻ cướp của họ, họ vừa hào phóng ban phát những lời hào nhoáng nhưng giả dối. Từ mười sáu chữ vàng: Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai, đến tứ hảo đại ngôn: Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt. Nay lại thêm mười sáu hạt xoàn: Sơn thủy tương liên, Văn hoá tương thông, Lý tưởng tương đồng, Vận mệnh tương quan! Có thể ai đó vì lợi ích cá nhân cục bộ, vì tầm văn hoá và nhân cách quá thấp nên cố tình bị những lời vàng, lời hạt xoàn này lừa phỉnh, song nhân dân Việt Nam thì không bị lừa.

Hệ tư tưởng, đảng phái chính trị chỉ là công cụ, là phương tiện để nhân dân thực hiện mục tiêu: Độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu nước mạnh, luật pháp nghiêm minh, người dân được hưởng đầy đủ quyền công dân. Mục đích là tối cao, bất biến, không thể thay đổi. Phương tiện thì vạn biến, thay đổi theo hoàn cảnh, tình thế. Phương tiện cũng rất cần phong phú, đa dạng để người dân được quyền lựa chọn. Vì mục đích có thể hi sinh phương tiện nhưng không thể vì phương tiện mà hi sinh mục đích. Trung Quốc cướp đất, cướp biển, cướp đảo của ta, bắn giết dân ta nhưng vì mối liên minh cố kết giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc mà nhà nước ta không dám tố cáo, phản kháng hành động kẻ cướp đó và nhân dân bộc lộ sự phẫn nộ với kẻ cướp đất đai lãnh thổ thì bị bắt bớ, tù đày. Đó là cách hành xử thiển cận vì phương tiện hi sinh mục đích, vì lợi ích của Đảng mà hi sinh lợi ích dân tộc, đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích dân tộc.

Đó là nghịch lí lớn nhất của một thời đầy nghịch lí!
Phạm Đình Trọng
Nguồn: talawas, ngày 29/09/2009

Ăn mày dĩ vãng

Phạm Đình Trọng

“… đưa những năm tháng đánh giặc hào hùng ra, đưa sự hi sinh to lớn của đồng bào chiến sĩ ra để ru ngủ nhân dân quên đi những nhức nhối hiện tại, để chính quyền tham nhũng núp bóng, ăn theo vinh quang của quá khứ mà tồn tại. Đó là sự ăn mày dĩ vãng! …”
Sáng chủ nhật, tôi vừa mở máy vi tính mới viết được mấy dòng thì có chuông gọi cửa làm đứt mạch suy nghĩ. Xuống cầu thang ra mở cửa, thấy ông hàng xóm là đảng viên cùng sinh hoạt tổ đảng với tôi mà ít ngày trước tôi đã phải mất một buổi tối họp kiểm điểm ông về cái tật lãng nhách, rất không đáng có ở một đảng viên của đảng cách mạng, đảng chính trị là tật tối ngày nhậu nhẹt bét nhè, bê tha, đã kéo dài suốt nhiều năm của ông. Nay một người như thế đến bảo tôi nộp cho ông bản thu hoạch học tập đạo đức Hồ Chí Minh!

Cuộc học tập tư tưởng, làm theo đạo đức Hồ Chí Minh tiến hành rầm rộ suốt mấy năm nay trên cả nước đã bộc lộ rất rõ tính hình thức, phô trương, màu mè, tốn kém, đầy sự áp đặt duy ý chí, đầy tính tôn giáo tụng niệm, thể hiện cung cách làm công tác tư tưởng theo lối mòn xưa cũ, đã quá lạc hậu trong thời công nghệ thông tin đã đi vào từng gia đình, đã đến với từng cá nhân, trong thời kinh tế thị trường quyết liệt, nghiệt ngã, cuộc sống đã trở về với những giá trị thiết thực, con người phải đối mặt với một thực tế phũ phàng của một xã hội tiêu dùng, xã hội bị chi phối, phân hoá quyết liệt bởi vật chất!

Nhìn ông đảng viên nát rượu đến đôn đốc tôi nộp bản thu hoạch học tập đạo đức Hồ Chí Minh, tôi lại nghĩ đến những ông quan tham nhũng có mặt ở khắp nơi, ở mọi cấp, những người đang đôn đáo phát động và thành kính học tập đạo đức Hồ Chí Minh, những diễn viên đang diễn vở kịch học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Không, tôi không thể tham gia vở diễn ấy. Chỉ chứng kiến vở diễn tôi đã bứt rứt không yên, làm sao tôi có thể tham gia cùng họ được! Tôi nói với ông đảng viên nát rượu: Nhờ anh báo cáo rằng tôi không làm bản thu hoạch cũng như tôi đã không đi nghe buổi lên lớp về đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ủy phường 15 quận Tân Bình tổ chức.

1. Mỗi người dù vĩ đại đến đâu cũng chỉ có một giai đoạn lịch sử nhất định

Tôi rất kính trọng nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh. Tôi đánh giá cao vai trò lịch sử của Hồ Chí Minh cũng như tôi đánh giá cao tư tưởng nhân dân, đạo đức yêu nước, giản dị, khiêm nhường, gần dân của Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Chí Minh gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, gắn liền với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại giải phóng dân tộc, thời đại giành độc lập dân tộc. Thời đại cách mạng giải phóng dân tộc đã qua. Việt Nam cũng như cả thế giới thứ ba vừa giành được độc lập đã bước vào thời đại mới, thời đại phát triển kinh tế, chăm lo cuộc sống riêng tư của mỗi người, mỗi nhà, nỗ lực phấn đấu vì sự phồn vinh, giàu mạnh của mỗi dân tộc.

Thời đấu tranh cách mạng giành độc lập, một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu phải chiến đấu với kẻ thù xâm lược giàu có, hùng mạnh, có vũ khí hiện đại thì vũ khí vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc nhỏ bé là ý chí, tinh thần quả cảm, là khối đoàn kết dân tộc muôn người như một xả thân vì nghĩa lớn độc lập dân tộc.

Trong cuộc chiến đấu giành độc lập, cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân phải gác sang một bên, không được quan tâm nhìn nhận. Chỉ có sự sống còn của cả dân tộc mới là nỗi đau đáu của mọi con tim. Cuộc sống cá nhân phải hi sinh. Ý chí của cá nhân cũng là ý chí của cả dân tộc. Để có mặt được trong cuộc sống đó, con người phải sống khác bình thường, sống bằng lí trí, niềm tin. Đó là không gian linh thiêng để những con người huyền thoại xuất hiện. Hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn con người Việt Nam huyền thoại có tên và không tên đã xuất hiện trong cuộc chiến tranh huyền thoại giải phóng dân tộc suốt ba mươi năm qua. Hồ Chi Minh là con người huyền thoại lớn nhất trong những con người Việt Nam huyền thoại đó. Nhưng con người huyền thoại phải đặt trong không gian huyền thoại. Hay nói cách khác, chỉ có không gian huyền thoại mới tạo ra con người huyền thoại.

Trở về cuộc sống đời thường, trở về với cuộc sống cá nhân riêng tư, với lo toan cơm ăn, áo mặc, sinh con đẻ cái, với đố kị, bon chen, không gian huyền thoại không còn nữa. Không gian huyền thoại càng không thể có trong cuộc sống có quá nhiều chụp giựt, lừa lọc, bạo lực, kẻ mạnh quyền mạnh thế ức hiếp người thân cô thế yếu. Đưa con người huyền thoại Hồ Chí Minh vào cuộc sống chụp giựt, lừa đảo, hỗn loạn, nhâng nháo ấy là sự lạc lõng thảm hại!

Một con người bằng xương bằng thịt, một con người thực sự là người dù vĩ đại, kiệt xuất, cao đẹp đến đâu cũng vẫn có những hạn chế, những khiếm khuyết, có cả những mềm yếu, ngã lòng. Lại càng không thể tránh được những ham muốn, đòi hỏi bình thường của con người bình thường. Cuộc chiến đấu cam go của dân tộc nhỏ bé chống lại đội quân xâm lược khổng lồ, dân tộc ấy cần có ý chí, tinh thần quả cảm, lại càng cần có lãnh tụ thiêng liêng tập hợp được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Vị lãnh tụ ấy không tự nhiên mà có. Chính khát vọng giải phóng dân tộc của nhân dân đã tô vẽ và tạo dựng lên vị lãnh tụ thiêng liêng ấy.

Huy động lịch sử, văn hoá, nhân dân còn huy động cả thần linh để thần thánh hoá lãnh tụ của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Chấm mỡ viết chữ lên lá cây để kiến gặm theo vết mỡ tạo thành hàng chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Lá cây mang hàng chữ theo suối nhỏ chảy ra sông lớn, phát tán rộng rãi khắp trong nhân dân. Hàng chữ trên lá cây trở thành thần bí thiêng liêng, trở thành lời thần linh mách bảo người dân rằng Lê Lợi, Nguyễn Trãi mang mệnh Trời dựng cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước. Vị hào trưởng nông dân nơi góc rừng heo hút Lam Sơn được thần thánh hoá đã trở thành trung tâm tập hợp sức mạnh đoàn kết dân tộc đánh đuổi quân Minh giành độc lập.

Ngay sau ngày 2.9.1945, hầu hết người dân Việt Nam vẫn ngơ ngác chưa biết Hồ Chí Minh là ai! Thù trong đe doạ, giặc ngoài lăm le, nền độc lập non trẻ đang ngàn cân treo trên sợi tóc. Tình thế ấy đòi hỏi phải có một lãnh tụ đủ uy tín tập hợp sức mạnh nhân dân bảo vệ độc lập. Hồ Chí Minh liền tự tay viết tập sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch và kí tên người viết là Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện kể tưởng như chân thực nhưng vẫn mang không khí huyền thoại, mang cảm hứng anh hùng ca. Trong tập sách đó cũng chính Hồ Chí Minh tự nhận là Cha già Dân tộc! Từ đó những bài hát Lãnh tụ ca của các nhạc sĩ, những tranh, tượng Cha già Dân tộc Hồ Chí Minh của các hoạ sĩ, nhà điêu khắc, những chuyện kể về Bác Hồ kính yêu của các nhà văn, các nhà cách mạng, các nhà văn hoá, trí thức, của cả đông đảo quần chúng công nông binh đều với cảm hứng anh hùng ca, với tình cảm thành kính thiêng liêng càng thần thánh hoá Hồ Chí Minh đậm đặc hơn. Những việc làm đó là rất cần thiết khi đang phải chiến đấu gay go với kẻ thù xâm lược. Nếu không có tình cảm thiêng liêng dành cho Hồ Chí Minh thì không có chín phút lẫm liệt đi vào lịch sử của Nguyễn Văn Trỗi. Đứng trên pháp trường, trước họng súng hành quyết, Nguyễn Văn Trỗi giật tấm vải đen bịt mắt, ưỡn ngực hô ba lần Hồ Chí Minh muôn năm trước khi bị loạt đạn xé nát ngực!

Trong đấu tranh cách mạng và trong những cuộc chiến tranh không cân sức vừa qua, đồng bào chiến sĩ ta luôn phải đối mặt với cái chết và mỗi người luôn sẵn sàng nhận lấy cái chết vì sự sống còn của dân tộc, của Tổ quốc. Năm 1944, chiến sĩ du kích Ba Tơ hô: Hi sinh vì Tổ quốc. Năm 1946, chiến sĩ cảm tử Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng giặc Pháp hô: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Những tiếng hô ấy âm vang trong suốt ba mươi năm chiến tranh giữ nước. Trong sự xả thân cứu nước đó, yếu tố tinh thần là quyết định. Truyền thống dân tộc, không gian huyền thoại của cuộc kháng chiến, gương anh hùng dũng sĩ và nhất là tình cảm thiêng liêng đậm màu tôn giáo giành cho lãnh tụ thần thánh Hồ Chí Minh làm nên tinh thần đó.

Trở về cuộc sống làm ăn đời thường, hàng ngày hàng giờ không còn đối mặt với cái chết nữa mà phải đối mặt với những bài toán kinh tế. Đời sống riêng tư mỗi người, đời sống kinh tế gia đình, đời sống kinh tế quốc gia đều đặt ra những bài toán cụ thể, thiết thực của đời thường. Trước những bài toán ấy, yếu tố tinh thần không còn quyết định nữa mà quyết định là yếu tố thực tế, yếu tố tỉnh táo, trí tuệ, yếu tố nắm bắt đầy đủ, kịp thời thông tin. Chỉ thu hẹp trong cái tình cảm hai nước cùng là cộng sản phải đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chỉ biết có tinh thần quốc tế vô sản, không có thực tế của đời sống kinh tế khắc nghiệt, thiếu sự tỉnh táo lạnh lùng của người làm kinh tế, lại càng thiếu trí tuệ của khoa học công nghệ, chúng ta đã kí hợp đồng với Trung Quốc hợp tác khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, đẩy đất nước ta vào những thảm hoạ khủng khiếp và bi thảm. Làm kinh tế chỉ bằng tinh thần và tình cảm nguy hại như vậy đó! Học tập đạo đức Hồ Chí Minh hoàn toàn chỉ là tinh thần và tình cảm!

Hồ Chí Minh có những phẩm chất đáng quí của thời nghèo khổ thắt lưng buộc bụng đánh giặc. Chiếc chiếu cói trải giường ngủ của Hồ Chí Minh trên nhà sàn đã cũ rách nhưng Hồ Chí Minh không cho thay. Nó mới rách một chỗ mà bỏ cả chiếc chiếu thì phí quá! Nói vậy và Hồ Chí Minh lấy kim chỉ tự khâu chỗ rách lại! Nhưng ngày nay ngân sách nhà nước vừa phải đổ ra hàng ngàn tỉ đồng để kích cầu, kích thích tiêu dùng để phát triển sản xuất. Cái chiếu cói cũng như mọi hàng hoá khác đều có giới hạn sử dụng. Giới hạn sử dụng ấy được ngôn ngữ quốc tế hoá là “đát” (date). Hết “đát” thì phải bỏ, thay cái khác. Hàng hoá có tiêu thụ được, sản xuất mới phát triển. Một thí dụ để thấy một phẩm chất rất đáng quí của Hồ Chí Minh ngày nào nay cũng không thể “học tập” được nữa!

Nhân vật lịch sử dù vĩ đại đến đâu cũng đều có “đát”. Hết “đát”, hết thời đại của mình thì lui về quá vãng, lui về thời của mình để thời đại khác xuất hiện, để nhân vật lịch sử khác thay thế. Ồn ào lôi nhân vật lịch sử từ quá vãng ra hiện tại là việc làm trái tự nhiên, trái qui luật, là phủ nhận hiện tại. Với công tác tư tưởng, đó là sự yếu kém, không biết làm việc, đành lôi bài bản cũ ra xào xáo lại!

2. Sự chối bỏ tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Tư duy phương Tây coi trọng cái lí. Những gì của tự nhiên không phù hợp với con người đều là bất hợp lí, đều cần cải tạo. Phương Tây đặt con người đối mặt với tự nhiên, con người luôn lăm le cải tạo tự nhiên. Tư duy phương Đông hướng vào cái Tâm. “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” (Nguyễn Du). Coi tự nhiên cũng như con người, đều là chủ thể thế giới, triết lí phương Đông không đẩy con người đối lập với tự nhiên mà đòi hỏi con người sống hoà thuận với tự nhiên. Ngôi nhà sàn nhỏ bé của Hồ Chí Minh núp trong cây xanh, soi bóng xuống hồ cá trong rừng cây xao xác gió ở Phủ Chủ tịch giữa Hà Nội là cách sống hoà vào thiên nhiên, là tư tưởng triết lí phương Đông của Hồ Chí Minh. “Vì lợi ích mười năm, trồng cây; vì lợi ích trăm năm, trồng người”. Hồ Chí Minh nhắc lại lời của nhà hiền triết phương Đông như vậy và đi đâu thăm hỏi đồng bào chiến sĩ Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở việc trồng cây không phải chỉ vì lợi ích mười năm sau được hái quả, thu hoạch gỗ mà còn vì cây xanh là thiên nhiên, là màu xanh vĩnh hằng của sự sống.

Tư tưởng lớn, xuyên suốt, nhất quán trong suốt cuộc đời Hồ Chí Minh là tư tưởng Nhân Dân. Với tư tưởng Nhân Dân, Hồ Chí Minh dựng lên nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nhà nước với những tiêu chí thiết thực, đáp ứng nỗi khát khao Dân chủ cháy bỏng của Nhân dân. Với tư tưởng Nhân dân, Hồ Chí Minh đã xây dựng lên bản Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đưa Nhân Dân lên chủ thể xã hội. Với tư tưởng Nhân Dân, Hồ Chí Minh đã đổi tên đảng Cộng sản Đông Dương huyễn hoặc mang những tham vọng viển vông thành đảng Lao động Việt Nam bình dị, gần gũi với Dân. Khi buộc phải tiến hành chiến tranh bảo vệ nền độc lập thì cuộc chiến tranh do Hồ Chí Minh phát động cũng là cuộc chiến tranh Nhân Dân, dựa vào Nhân Dân tiến hành chiến tranh giữ nước.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bình dị vậy thôi. Những người tự nhận là học trò gần gũi của Hồ Chí Minh, luôn ra rả nói học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nhưng hoàn toàn làm trái với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, hoàn toàn chối bỏ, phủ nhận tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Với triết lí phương Đông, con người sống chết đều hoà vào thiên nhiên, Hồ Chí Minh viết rõ ràng trong di chúc đưa tro xác Hồ Chí Minh về với đất đai. Với tư tưởng Nhân Dân, Hồ Chí Minh không chấp nhận hoang phí tiền bạc của Dân. Khi sống, Hồ Chí Minh cần kiệm, giản dị, sinh hoạt như người dân thường. Cả đời làm Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh chỉ có hai kiểu trang phục, bộ quần áo nâu nông dân và bộ quần áo ka ki cán bộ như mọi cán bộ bình thường. Cơm dưa cà đạm bạc. Chiếc ô tô của Chủ tịch nước chỉ là ô tô thông thường đã chạy hơn mười năm Hồ Chí Minh vẫn không cho đổi xe mới… Khi chết, Hồ Chí Minh chỉ mong muốn tro xác về với đất đai cả ba miền đất nước. Nơi Hồ Chí Minh về với đất chỉ cần mái chòi đơn sơ trên đồi cây mang màu xanh bất tận của thiên nhiên đất nước. Hồ Chí Minh ngăn cấm không cho sử dụng tốn kém tiền bạc của Dân cho cái chết của Hồ Chí Minh. Mong muốn giản dị về với đất đai của Hồ Chí Minh đã không được thực hiện, những người ra rả học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn đổ không thương xót số tiền khổng lồ của Dân để xây lăng mộ, duy trì bộ máy đồ sộ, cả một Bộ Tư lệnh lăng để bảo quản thi hài, quản lý lăng mộ Hồ Chí Minh! Cho đến nay, cả đến Quốc hội của Dân cũng không được biết số tiền khổng lồ đó là bao nhiêu!

Điều bất nhẫn với Dân và xúc phạm đạo đức Hồ Chí Minh hơn nữa là nhà nước đổ số tiền khổng lồ ra xây dựng và duy trì lăng Hồ Chí Minh khi hơn mười triệu Dân miền Bắc đang đói lay đói lắt, trẻ thơ không đủ cơm ăn, người bệnh không có viên thuốc uống, người nông dân thu hoạch lúa, đóng thuế rồi chỉ còn bữa cháo bữa rau cầm hơi!

Trong đoàn nhà văn Việt Nam sang Ấn Độ tham dự một hoạt động văn chương quốc tế ở thành phố Kolkata, lúc vui chuyện với các bạn Ấn Độ, tôi nhắc đến việc Ấn Độ đã trở thành cường quốc nguyên tử, tưởng các bạn Ấn Độ sẽ tự hào lắm. Nhưng tôi thấy mọi người đều im lặng, vẻ mặt tư lự rồi nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hoá Chàm đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Ấn Độ – Việt Nam (Indo – Vietnam Solidarity Committee), ông Geetesh Sharma nói: Để có nguyên tử, cho đến hôm nay hơn năm mươi phần trăm dân số Ấn Độ còn phải sống trong nghèo khổ và những khu nhà ổ chuột cứ lan rộng khắp đất nước Ấn Độ! Nghe người bạn thân thiết của Việt Nam nói vậy tôi lại thầm so sánh: Hơn năm mươi phần trăm dân số sống trong nghèo khổ để Ấn Độ có nguyên tử vẫn còn hơn là hơn mười triệu dân Việt Nam phải sống trong nghèo khổ để có lăng mộ Hồ Chí Minh! Đó là điều trái với đạo đức Hồ Chí Minh, là sự phỉ báng tư tưởng Nhân Dân của Hồ Chí Minh!

Làm trái tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không phải là cá biệt mà là việc làm có tính toán, có hệ thống từ nhỏ đến lớn, từ chi tiết đến đại thể, từ sự việc cụ thể đến vấn đề khái quát, có sự thống nhất của nhiều thế hệ lãnh đạo kế tiếp sau Hồ Chí Minh.

Nhà nước dân chủ là khát vọng của mọi thân phận người Dân nước Việt, là xu thế của thời đại. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã mở ra thời đại Dân chủ hoá cho cả thế giới thứ ba. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi bảo vệ thành công nền Độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã kích hoạt cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trở thành dòng thác cách mạng. Vì thế tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là sự ngưỡng vọng của thế giới, là niềm tự hào to lớn của mọi người dân Việt Nam. Cho đến nay tiến trình dân chủ hoá vẫn đang diễn ra trên toàn thế giới. Ở nước ta, tiến trình dân chủ hoá vẫn còn ở chặng khởi đầu, còn nhiều dò dẫm và trở ngại. Dân chủ vẫn đang là nỗi thèm khát và là nguồn cổ vũ mạnh mẽ người dân đi tới, vượt qua mọi trở ngại, giành lấy một nền dân chủ thực sự và đầy đủ. Thế mà tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mang tư tưởng Dân Chủ của Hồ Chí Minh, mang khát vọng Dân chủ của cả dân tộc Việt Nam đã bị những người luôn cao giọng học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh loại bỏ thẳng thừng để thay thế bẳng tên gọi xa lạ, ngoại lai: Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Trong khái niệm, trong ý thức, trong tình cảm mọi người dân Việt Nam, tiếng gọi Việt Nam bao giờ cũng phải đưa lên trên cùng. Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! Ôi nước Việt yêu dấu ngàn năm! Tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thân thiết như máu thịt chính là do đáp ứng tình cảm đó. Nay một ngôn từ xa lạ, xã hội chủ nghĩa, ngôn từ chỉ gợi lên những kí ức đau buồn của cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, của những cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt triền miên, trở thành tên nước Việt và tên gọi Việt Nam thân yêu như tên người Mẹ hiền, như tên người thương đã bị chìm khuất, bị đè bẹp, bị đẩy xuống cuối cùng trong chuỗi ngôn từ lạnh lùng, nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Thể chế Dân chủ cần thiết cho người dân Việt Nam như khí trời cần thiết cho sự sống. Thể chế ấy bị vất bỏ để thay thế bằng khái niệm mơ hồ, viển vông, không có thật, khái niệm chỉ có trong ảo thuyết. Đó là sự chối bỏ phũ phàng tư tưởng Hồ Chí Minh!

Chính đảng cách mạng Hồ Chí Minh dựng lên là sự tập hợp từ những nhóm cộng sản Việt Nam hình thành trong thời kì lây lan của phong trào cộng sản thế giới. Vì thế chính đảng ấy ban đầu mang tên cộng sản, mang dấu ấn hoàn cảnh lịch sử ra đời. Nhưng đến năm 1951, khi cách mạng Việt Nam đã lớn mạnh, cách mạng đã giành được quyền chủ động và thế phản công trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, đang tiến tới ngày giải phóng đất nước, Hồ Chí Minh liền đổi tên đảng là đảng Lao Động Việt Nam. Tuy vẫn phải giữ liên hệ chặt chẽ với các đảng cộng sản và các nước cộng sản để nhận sự hỗ trợ cần thiết cho cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng tên đảng Lao Động Việt Nam đã bộc lộ rất rõ tư tưởng Dân tộc, tư tưởng hướng nội của Hồ Chí Minh. Khi đất nước đã được hoàn toàn giải phóng, chúng ta đã thoát khỏi thân phận là lực lượng xung kích phải đứng ở mũi nhọn trong cuộc đối kháng ý thức hệ thế giới là khi chúng ta càng phải hướng nội, càng phải nêu cao tư tưởng Dân tộc của Hồ Chí Minh để hoà giải, hoà hợp dân tộc, dồn sức xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Nhưng thế hệ lãnh đạo kế cận Hồ Chí Minh tự nhận là những học trò gần gũi nhất của Hồ Chí Minh lại tráo trở với tư tưởng Hồ Chí Minh đã thay tên đảng Lao động Việt Nam của Hồ Chí Minh bằng tên đảng Cộng sản Việt Nam, một tên gọi đầy tính băng đảng quốc tế! Phủ nhận tên đảng Lao Động Việt Nam mang văn hoá Việt Nam coi trọng người lao động, mang tâm lí, tính cách con người Việt Nam là phủ nhận bản sắc Việt Nam để đồng hoá Việt Nam với thế giới cộng sản chỉ nhìn nhận giai cấp!

Vất bỏ tư tưởng dân tộc, tư tưởng hướng nội của Hồ Chí Minh, vẫn say sưa quyết liệt với bạo lực chuyên chính vô sản, vẫn say sưa quyết liệt đối đầu ý thức hệ, lấy giai cấp trấn áp dân tộc, đưa đất nước đến hai thảm hoạ: Phá hoại khối đoàn kết dân tộc, tù đày, dằn mặt với những người con nước Việt ở phía bên kia ý thức hệ, bỏ phí một lực lượng lao động cao cấp vô cùng quí giá! Phá hoại tan hoang nền kinh tế miền Nam, một nền kinh tế tư bản cao hơn hẳn kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc!

Vất bỏ tư tưởng dân tộc, tư tưởng hướng nội của Hồ Chí Minh để hướng ngoại, vươn tới thế giới cộng sản khi thế giới cộng sản đang khủng hoảng toàn diện, đang thoái trào tan rã, đang lục đục gầm gừ năm bè bảy mối. Một lần nữa những người lãnh đạo Việt Nam ngây thơ, không đủ tầm lại đưa dân tộc Việt Nam trở thành vật hi sinh của thế giới cộng sản. Mâu thuẫn của thế giới cộng sản lại trút xuống đầu nhân dân Việt Nam, nhân dân Việt Nam lại phải hứng chịu cuộc chiến tranh đẫm máu ở biên giới phía Bắc kéo dài suốt mười năm, từ 1979 đến 1988. Đó là hậu quả dại dột tráo trở tư tưởng dân tộc của Hồ Chí Minh.

Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chi Minh soạn thảo được Quốc hội khoá I thông qua ngày 9.11.1946 đã cụ thể hoá tư tưởng Nhân dân của Hồ Chí Minh. Hiến pháp 1946 đã đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ lên vị trí chủ thể xã hội, trao cho Nhân dân toàn bộ quyền bính xã hội: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1, điều đầu tiên Hiến pháp 1946). Hiến pháp 1946 đã cụ thể hoá quyền lực nhân dân khi ghi rõ: Những điều thay đổi Hiến pháp khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70, điều cuối cùng Hiến pháp 1946). Nhưng những Hiến pháp ban hành sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, đã tước bỏ vị trí làm chủ của Nhân Dân, tước bỏ quyền bính xã hội của Nhân Dân, trao quyền làm chủ xã hội cho đảng Cộng sản, trao toàn bộ quyền bính xã hội cho đảng Cộng sản, một đảng nắm quyền thống trị xã hội bằng bạo lực chuyên chính vô sản, bằng trấn áp giai cấp. Điều 4 Hiến pháp 1980 ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam . . . là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội. Điều 4 Hiến pháp 1992 lại ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội! Chỉ một điều 4 của Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đã tước đoạt toàn bộ quyền làm chủ xã hội của Nhân Dân mà Hiến pháp 1946 của Hồ Chí Minh đã trao cho Nhân Dân. Bao nhiêu thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống, bao nhiêu xương máu đã đổ ra mới giành và giữ được độc lập. Nhưng nước có độc lập mà người Dân lại trở về thân phận trước năm 1945 khi đất nước còn nô lệ! Đó là nỗi cay đắng của Nhân dân khi tư tưởng Nhân dân của Hồ Chí Minh bị phản bội!

Những tư tưởng đạo đức cơ bản của Hồ Chí Minh đã bị chối bỏ thì việc rầm rộ học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có thực tâm?

3. Cuộc vận động làm điều giả dối

Phải nói thẳng rằng chính quyền nhà nước hiện nay là chính quyền tham nhũng. Chính quyền tham nhũng tạo ra luật pháp để tham nhũng. Luật để tham những rõ ràng nhất là luật Đất đai. Luật Đất đai ở điều 5 ghi: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu. Điều 7 lại ghi: Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Câu chữ lủng củng và diễn đạt cầu kì có thể rút gọn lại là: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lí.

Ruộng vườn mồ hôi xương máu của tổ tiên từ ngàn đời để lại bỗng thành sở hữu toàn dân! Cha chung không ai khóc, sở hữu toàn dân là vô chủ và quan tham thỏa sức vơ vét! Nhà nước quản lý nên quan chức nhà nước mặc sức cắm mốc thu hồi đất theo những tính toán vụ lợi của các quan. Thu hồi đất, phân lô chia chác cho các quan, chia cho vợ, con, họ hàng các quan. Thu hồi đất cho các dự án để ăn chặn tiền đền bù, ăn chênh lệch giữa giá đất đền bù và giá đất giao cho các dự án! Càng nhiều dự án thì các quan càng có nhiều tiền và dòng người dân khiếu kiện vì bị cướp đất, bị ăn chặn tiền đền bù càng nối dài theo năm tháng. Người nông dân mất đất phải phiêu bạt khắp nơi, từ vị trí làm chủ họ trở thành người đi làm thuê. Con gái ra thành phố làm tiếp viên cà phê đèn mờ, ra nước ngoài làm ô sin, làm nô lệ tình dục. Con trai đi bán sức lao động, làm thuê, làm mướn. Bần cùng và phẫn uất, có người trở thành trộm cướp. Có người già phải dắt cháu đi ăn xin! Chỉ mới vài ngày gần đây thôi, một cô bé ra TP HCM thi đại học phải nhịn đói tròn 3 ngày trong thời gian thi. Đó là trách nhiệm – nặng hơn nữa là tội ác – của ai nếu không là của những kẻ khề khà giảng giải đạo đức Hồ Chí Minh mà sau lưng lại là vô số “nhóm lợi ích” ôm hàng túi vàng?

Miệng hô hào chống tham nhũng nhưng chính quyền tham nhũng thì rất nương nhẹ, dửng dung với quốc nạn tham nhũng. Chính phủ nước ngoài cho ta vay vốn làm công trình. Công ty nước ngoài liền hối lộ quan chức ta để trúng thầu thi công công trình đó. Chính quyền nước ngoài đã đưa người hối lộ ra toà án nhưng quan chức ta nhận hối lộ thì vẫn bình yên và chính quyền ta thì dửng dưng nói với nước ngoài: Cứ đưa chứng cứ ra, chúng tôi sẽ xử lí! Làm như hối lộ và nhận hối lộ chỉ là việc của mấy người nước ngoài! Bố đứng đầu cơ quan phát hành tiền bạc nhà nước, con liền lập công ti in tiền cho bố. Bao nhiêu bê bối, lình xình đã phơi bày ra nhưng vẫn được bỏ qua! Dù chế độ tiền lương đã được cải thiện nhiều nhưng nếu không tham nhũng thì đồng lương quan chức không thể dư dả đến mức quan chức ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thì về vùng xa mua hàng chục hecta đất làm trang trại, về những nơi kì thú như Sóc Sơn, Ba Vì, Nha Trang, Mũi Né, Đà Lạt mua biệt thự làm chốn đi về nghỉ ngơi. Các quan tỉnh lẻ thì về Hà Nội, vào TP Hồ Chí Minh mua đất, mua nhà cho con lớn con nhỏ, mua biệt thự chờ ngày về hưu. Lớp quan chức này đã vớ bẫm về nghỉ, hạ cánh an toàn, lớp quan chức sau lại cất cánh bay theo đường bay làm giàu, bòn rút tiền bạc nhà nước, bóp nặn dân của lớp quan chức trước. Tất cả đều an toàn, tất cả đều vô sự trở thành sự khuyến khích tham nhũng, trở thành sự hấp dẫn của chiếc ghế quan chức và chiếc ghế quan chức trở thành đắt giá trong thị trường mua quan bán chức!

Chuyện tham nhũng của bộ máy nhà nước ta không sao kể xiết. Bộ máy nhà nước tham nhũng ấy lại cao giọng rao giảng đạo đức Hồ Chí Minh, lại ồn ào rầm rộ học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thì đó là sự giả dối vô liêm sỉ, một sự giả dối tự nhiên như không, không còn biết ngượng, thì đó là một màn kịch vụng về, trơ trẽn! Và cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành cuộc vận động làm điều giả dối! Đó là suy đồi thảm hại của đạo đức xã hội!

Bộ máy tham nhũng làm cho chính quyền suy yếu, nhân dân oán giận, lòng người li tán. Trong tình thế đó, đưa Hồ Chí Minh ra, đưa những năm tháng đánh giặc hào hùng ra, đưa sự hi sinh to lớn của đồng bào chiến sĩ ra để ru ngủ nhân dân quên đi những nhức nhối hiện tại, để chính quyền tham nhũng núp bóng, ăn theo vinh quang của quá khứ mà tồn tại. Đó là sự ăn mày dĩ vãng!
Phạm Đình Trọng
© Thông Luận 2009